Nghiên cứu sinh trong nước rất … “cô đơn”!

“Nhiều nghiên cứu sinh trong nước rất cô đơn trên con đường nghiên cứu của mình, vì vậy xác suất thành công rất thấp. Nhà nước yêu cầu các trường đại học trong nước phải đào tạo tiến sĩ, nhưng kinh phí lại đổ ra … nước ngoài!”, GS.TS.Ngô Kiều Nhi đã phát biểu như vậy tại hội thảo “Trường đại học bách khoa – 30 năm đào tạo sau đại học” vừa được tổ chức tại TP.HCM.

Đào tạo trong nước có 2 điểm lợi cho quốc gia

Trên góc độ lợi ích quốc gia, GS.TS. Ngô Kiều Nhi cho rằng, nếu quá trình nghiên cứu được thực hiện trong nước thì có 2 điểm lợi: góp phần giải quyết và thúc đẩy trực tiếp kỹ thuật, đặc biệt là an ninh quốc phòng; sau khi hoàn thành luận văn, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này trong tương lai. Việc đào tạo tiến sĩ có sự khác biệt rất cơ bản: từ thạc sĩ trở xuống là việc tiếp thu những kiến thức đã có, còn tiến sĩ là việc sáng tạo mới, tìm ra tri thức mới. Vì vậy, nhiều nước đã tận dụng đặc điểm của đào tạo tiến sĩ để tranh thủ đẩy mạnh khoa học, đặc biệt là trình độ công nghệ trong nước.

Tuy nhiên, hiện nay số lượng nghiên cứu sinh trong nước rất ít, GS.Nhi nêu một bất hợp lý: “Nhà nước chi vài chục ngàn USD cho mỗi nghiên cứu sinh (trong cả ngàn nghiên cứu sinh) dự kiến gửi đến các trường trên thế giới để họ đào tạo thành tiến sĩ. Một mặt Nhà nước yêu cầu các thầy cô, các trường đại học phải đào tạo tiến sĩ, nhưng kinh phí lại đổ ra nước ngoài. Tôi phân vân quyết định trên đã được nghiên cứu một cách thấu đáo chưa? Chúng ta đã tổng hợp hiệu quả đóng góp của các tiến sĩ đào tạo trong và ngoài nước chưa? Đã xem xét kinh nghiệm từ các nước có tình trạng tương tự như Hàn Quốc, Trung Quốc chưa? Tại sao họ mở rộng việc đào tạo nghiên cứu sinh trong nước một cách rầm rộ như vậy, hơn thế nữa, họ còn thu hút NCS từ các nước khác đến rất đông với các chính sách ưu đãi. Tác động đóng góp của chủ trương này như thế nào đến việc họ đạt được những thành tựu ngoạn mục trong khoa học, kỹ thuật quốc phòng, chinh phục vũ trụ?”. Sau khi nêu các dẫn chứng trên, GS.Nhi đề nghị chuyển một nửa ngân sách trên cùng một nửa lượng NCS ở lại đào tạo trong nước.

PGS.TS. Lê Xuân Hải, khoa kỹ thuật hoá học, đề nghị thêm: “Nếu thực hiện một cách nghiêm túc thì quy trình thẩm định, đánh giá luận án tiến sĩ đào tạo trong nước chặt chẽ, khắt khe hơn so với nhiều nước khác. Để tạo sự bình đẳng giữa luận án bảo vệ ở nước ngoài và trong nước, đề nghị những tiến sĩ đã bảo về ở nước ngoài, về làm việc trong phạm vi quản lý của Đại học quốc gia TP.HCM phải trình bày lại luận án trước hội đồng khoa học. Không phải bảo vệ lại luận án mà là một hình thức trao đổi khoa học, để tất cả cùng đánh giá kết quả đào tạo sau đại học ở nước ngoài theo những chuẩn mực trong nước”. PGS.Hải cũng bức xúc với việc một số người tìm cách sở hữu, sử dụng “các bằng tiến sĩ được cấp bởi các hình thức đào tạo không được nhà nước Việt Nam công nhận”, ông đề nghị Bộ giáo dục và đào tạo cần có biện pháp thích hợp với những trường hợp này.

Để nghiên cứu sinh không còn “cô đơn”

Đề tài của nghiên cứu sinh các ngành công nghệ phần lớn đòi hỏi nguyên liệu, thiết bị thí nghiệm rất đắt tiền, không có sẵn, họ phải tự bỏ tiền ra mua, trung bình là vài trăm liệu (có trường hợp làm nghiên cứu sinh ở Trường đại học bách khoa phải tự bỏ ra đến 600 triệu đồng ). Để giải quyết vấn đề này, ngoài đề xuất trên, ở cấp độ nhà trường, GS.Nhi đề nghị xem đề tài của nghiên cứu sinh chính là một bộ phận quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học của trường. Từ đó có cơ sở để chuyển kinh phí sang làm học bổng và đầu tư trang thiết bị.

Ở nước ngoài, đề tài của nghiên cứu sinh là một trong những vấn đề cần giải quyết của đề tài mà giáo sư hướng dẫn đang thực hiện, do đó việc của trò cũng chính là việc của thầy. Sự thành bại của trò gắn liền với sự thành bại, uy tín của thầy. Vì vậy, thầy rất nhiệt tình trong việc hướng dẫn, nhất là khi gặp những vấn đề khó giải quyết. Đáng tiếc là nghiên cứu sinh ở trong nước thì không được như vậy, thầy là thầy, còn trò là trò, không ràng buộc, làm không được thì thôi, không sao! Một nghiên cứu sinh từng “bỏ cuộc” vì không biết giải quyết đề tài bằng cách nào, đã tâm sự: “Tôi cảm thấy rất cô đơn. Tôi cần một thầy hướng dẫn với tinh thần và tình cảm như các giáo sư ở nước ngoài”.

About tuongnm_phuongdt

Hạnh phúc với những gì đang có
Gallery | This entry was posted in Nghiên cứu. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s